
Vu Khống (Tiểu Thuyết)

Chi tiết cuốn sách
- Nhà xuất bản
- — Văn học
- Xuất bản
- — 5/2009
- Số trang
- — 248
- Kích thước
- — 12x20
- Trọng lượng
- — 230 g
Mô tả
Linda Lê và tiểu thuyết
Vu khống
Với tôi, Linda Lê thuộc vào các nhà văn tôi luôn sẵn lòng đọc các tác phẩm mới nhất: từ tiểu thuyết, truyện ngắn, đến tiểu luận, và thậm chí các bài đăng báo (chủ yếu là trên tạp chí Magazine Littéraire). Cùng lúc, tôi luôn ngần ngại nói đến cái tên Linda Lê mỗi khi được hỏi về những gương mặt xuất sắc của văn chương đương đại Pháp, dù cho quả thực Linda Lê không chỉ là nhà văn xuất sắc mà còn chiếm giữ một vị trí độc đáo trên văn đàn Pháp hiện nay.
Điều này rất khó giải thích. Không phải vì Linda Lê là nhà văn của tình dục sống sượng, về mặt đó chắc chắn Linda Lê thua xa những người như Christine Angot hay Michel Houellebecq. Văn học Pháp chưa bao giờ ngừng sản sinh những nhà văn gây bực bội, hoặc quá gây hấn, hoặc quá khiêu khích, hoặc quá khó hiểu, bí hiểm, nhất là rất nhiều nhà văn được giới phê bình ca ngợi nhưng bị đại chúng dè chừng. Những hiện tượng như vậy đã trở thành một đặc trưng của văn học và văn hóa Pháp, từ lâu người ta hẳn đã không còn kinh ngạc vì quá chừng nhiều tác phẩm khó chịu (dù đầy tài năng), mà quay sang kinh ngạc nếu lâu lâu nước Pháp không trình làng cho thế giới một ai đó dùng văn chương làm điên đầu độc giả.
Lý do cũng không hoàn toàn nằm ở chỗ Linda Lê tự chọn cho mình một sự tồn tại xa cách với thực tại. Báo chí Pháp luôn miêu tả đó là một nhà văn rụt rè, hết sức tránh né báo chí, nhưng dù có vậy cũng còn rất xa mới giống với sự từ chối đầy tính khinh miệt của một số nhà văn quyết liệt tránh đời, những trường hợp như Maurice Blanchot, Julien Gracq hay Salinger bên Mỹ. Thái độ ấy ở Linda Lê, dù hẳn là điều này không hoàn toàn đủ sức giải thích tất cả, có phần bắt nguồn từ nguồn gốc cá nhân: Linda Lê sinh ra ở Đà Lạt, sau 1975 thì theo mẹ sang Pháp, người cha Việt Nam ở lại đất nước. Trong một lần trả lời phỏng vấn, Linda Lê nói về sự kiện này như sau: “Trong một thời gian dài đó từng là một vết thương lòng. Tôi phải rời xa cha tôi, ông ở lại. Ông đã có một ảnh hưởng lớn lên tác phẩm của tôi. Cho đến khi mất (năm 1995), ông vẫn là người mà tôi bí mật gửi tặng những quyển sách của mình. Nếu không có ông, nếu không có ý chí mà ông truyền vào các mạch máu của tôi, cũng như sự giáo dục mà ông đã dành cho tôi, thì hẳn là tôi đã không khởi sự viết văn. Như vậy với tôi Việt Nam là quê cha (tổ quốc) theo đúng nghĩa đen, nghĩa là nơi cha tôi đã sống, đã đau khổ, đã yêu thương, và đợi tôi trở về.”
Sống ở Pháp với tư cách một “trú dân” (métèque), Linda Lê viết văn, với một quá khứ ám ảnh sau lưng. Hoàn cảnh này đã được chuyển hóa phần nào vào cuốn tiểu thuyết được xuất bản tại Việt Nam lần này,
Vu khống
. Trong truyện, hai cậu cháu người Việt Nam đều ham muốn viết văn, nhưng một người tìm cách tách khỏi quá khứ bằng sách vở, còn người kia như thể muốn dùng chữ nghĩa để thâu tóm lại những gì đã mất. Cả hai cách thức đều dẫn tới sự vô vọng.
Một cốt truyện như vậy không có gì là bất thường, nếu qua quýt thì hoàn toàn có thể coi là truyện viết về thân phận những người Việt Nam tha hương nơi đất khách quê người. Chính ở đây sự ngần ngại mà tôi đã nói đến ở đầu bài bắt đầu phát lộ: tác phẩm của Linda Lê không thể bị quy giản và rút gọn như vậy được. Ở
Vu khống
, cũng như ở các tác phẩm hư cấu khác, đặc biệt là
Les Trois Parques (Ba nữ thần Số mệnh)
, cuốn tiểu thuyết tham vọng và có lẽ cũng là thành công nhất của Linda Lê, ta luôn chạm phải một điều gì đó phức tạp quá mức, buồn bã quá mức, nhiều kết nối quá mức. Nói một cách ngắn gọn, tác phẩm Linda Lê luôn nằm ở địa hạt của văn chương quá mức.
Ba nữ thần Số mệnh
vừa gợi nhắc đến văn hóa Hy Lạp, vừa vở kịch King Lear, vừa mang ẩn dụ ba miền của Việt Nam, trong một kết cấu rất khó theo dõi, và rất dễ gây trầm uất cho độc giả.
Tiểu thuyết hay truyện ngắn của Linda Lê luôn đi tìm một cái gì đó rất xa bản thân văn bản, nhưng lại không bao giờ đi ra ngoài văn chương. Linda Lê, dường như vậy, góp mặt trong số các nhà văn quá yêu văn chương. Những người như vậy tạo ra sự e dè ở người tiếp xúc, bởi tất nhiên là nhà văn thì yêu văn chương, nhưng sống luôn ở trong đó không ra ngoài, không bao giờ dời chân khỏi mảnh đất văn chương, thì lại rất hiếm. Người ta luôn ngần ngại trước những gì quá mức, giống như ngần ngại trước những người có dáng dấp của sự cuồng tín, và thường xuyên chấp nhận quay sang những hình thức “tử vì đạo văn chương” khác dễ chấp nhận hơn, chẳng hạn như đọc Amélie Nothomb (ở Việt Nam đã có
Sững sờ và run rẩy
và sắp tới là
Hồi ức kẻ sát nhân
). Ở Nothomb cũng có sự mê đắm khác thường, thậm chí còn có thể gọi tên đó là chứng bệnh cuồng viết (graphomania): nếu in hết những gì Nothomb từng viết ra thì có lẽ chồng sách còn cao hơn đầu tác giả của chúng.
Nhưng sự khác biệt giữa hai hiện tượng rất dễ nhận thấy, không hẳn là chuyện “đẳng cấp văn chương”, mà là khác biệt về cách tiếp cận văn chương. Ấn tượng về sự khác biệt này ở Linda Lê sẽ càng rõ hơn ở các tiểu luận văn học (trong một thời gian dài Linda Lê giữ mục đọc sách cổ điển cho tạp chí Magazine Littéraire). Các nhà văn khi viết tiểu luận thường xuyên bàn đi bàn lại, mang tới những góc nhìn mới về các tác giả hoặc tác phẩm lớn, như thể để thử sức mình ở những nơi tưởng chừng như đã chẳng còn gì để nói nữa. Linda Lê lại né tránh điều ấy, những gì cô say mê là tác phẩm của vô số nhà văn gần như đã bị lãng quên, điều này có thể thấy rất rõ trong tập tiểu luận mới nhất, xuất bản hồi đầu năm 2009 này mang tên
Au fond de l’inconnu pour trouver du nouveau
(nhan đề lấy lại một câu thơ của Baudelaire, có thể dịch là “Đến tận cùng cái chưa biết để tìm sự mới mẻ”): toàn bộ cuốn sách bàn về các nhà văn ngày nay không còn được ai nói đến, thuộc đủ mọi quốc tịch khác nhau. Cũng phải nói thêm rằng tiểu luận của Linda Lê luôn tràn ngập một tình yêu văn chương đậm đặc không lúc nào nhạt bớt, cũng như một sự sáng suốt hiếm có, dẫn dắt người đọc trong bạt ngàn tác phẩm theo những lối đi đầy hạnh phúc.
Văn chương, với Linda Lê (Linda Lê nhà văn hoặc Linda Lê nhà tiểu luận) là một văn chương quá mức văn chương, luôn là nỗ lực và sự sẵn sàng dấn thân vào những cuộc phiêu lưu ngôn từ và lịch sử. Điều may mắn là ở lần xuất hiện tại Việt Nam này, Linda Lê đã có được một dịch giả đặc biệt xuất sắc. Bản dịch tiểu thuyết
Vu khống
của Nguyễn Khánh Long là một trong những bản dịch hiếm hoi khiến khi đọc tôi thấy cảm động vì mối giao cảm giữa tác giả và dịch giả. Làm được điều này rất khó, chắc hẳn người dịch cũng xuất phát từ một điểm giống với tác giả: tình yêu văn chương.
Nguồn:
Thể thao & Văn hóa.
"Cho bí mật của phòng 406"
: Câu đề từ của
Vu khống
đưa chúng ta thẳng vào bầu không khí kề cận, thậm chí là ở bên trong, của sự điên. Nhân vật người điên là một kẻ da vàng, một tên Chà Chệt lần lượt mang biệt danh “Mặt-Khỉ”, rồi “Chệt-Khùng”, hắn lẩn quất trong các thư viện với một tham vọng điên khùng: trở thành “gã Chà Chệt viết văn bằng tiếng Pháp”. Nhưng quá khứ đã đuổi kịp hắn dưới hình thức một bức thư, và căn phòng bí mật của hắn bị xâm nhập, bị thu hẹp không gian bởi một thứ khiến hắn có cảm giác kinh tởm xen lẫn trông chờ thầm kín: Sự quan tâm. Đứa cháu gái của hắn (cũng viết văn bằng tiếng Pháp) làm thế giới tưởng chừng đã hoàn toàn đông kín của hắn bỗng có những cơn chao đảo không ngờ, dù mong muốn duy nhất của hắn chỉ giản đơn: “tôi với đống sách sẽ là một”.










